Quang cao giua trang

Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2010-2020

Thứ năm - 08/08/2019 22:00
Đánh giá kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới tại khu vực miền núi phía Bắc, đã có 06 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới, có 603/2.280 (26,45%) số xã đạt chuẩn; có 786 xã đạt tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm (đạt 34,5%); đã có nhiều bài học kinh nghiệm, các mô hình, cách làm hiệu quả về bảo vệ môi trường nhưng vẫn còn không ít những khó khăn, thách thức đối với khu vực này.
Hội nghị được tổ chức tại thành phố Hòa Bình ngày 3/8 với sự tham gia của gần 500 đại biểu các bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo 14 tỉnh miền núi phía Bắc và các cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến. Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có lãnh đạo các bộ, ban, ngành Trung ương, Ủy ban của Quốc hội, Tỉnh ủy, UBND của 14 tỉnh trong vùng và các tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong xây dựng nông thôn mới. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Võ Tuấn Nhân tham dự Hội nghị.
Tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc giai đoạn 2010-2020

Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ chỉ đạo tại Hội nghị (Ảnh: Báo Quân đội nhân dân)

Xây dựng nông thôn mới khu vực miền núi phía Bắc có sự chuyển biến nhưng còn nhiều khó khăn

Khu vực miền núi phía Bắc bao gồm 14 tỉnh, chiếm 28,75% tổng diện tích cả nước với trên 30 dân tộc cùng sinh sống, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa đặc trưng. Đây là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của cả nước; có vai trò quyết định đối với môi trường sinh thái của cả vùng Bắc Bộ; có tiềm năng, lợi thế về nông, lâm nghiệp, thuỷ điện, khoáng sản, du lịch và kinh tế cửa khẩu. Nhưng đây cũng là khu vực có địa hình tự nhiên phức tạp, chia cắt hiểm trở, kết cấu hạ tầng kỹ thuật còn yếu kém, kinh tế - xã hội chậm phát triển.

Sau 9 năm triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, các địa phương khu vực miền núi phía Bắc vẫn gặp nhiều khó khăn, thách thức hơn các vùng khác. Đến hết tháng 6-2019, khu vực miền núi phía Bắc đã có 603/2.280 xã (26,45%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 18,34% so với cuối năm 2015, mức độ tăng thấp hơn so với bình quân cả nước là 32,79%), thấp hơn so với mức đạt chuẩn của cả nước (50,26%). Có 7/14 tỉnh đã đạt và vượt mục tiêu phấn đấu đến 2020 được Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1865/QĐ-TTg ngày 23/11/2017 (Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Giang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên). Bình quân tiêu chí/xã đạt 12,28 tiêu chí (tăng 8,32 tiêu chí so với năm 2011 và tăng 2,9 tiêu chí so với năm 2015), thấp hơn so với bình quân chung của cả nước là 15,26 tiêu chí/xã.

Cả vùng đã có 6 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới (cả nước có 84 đơn vị). Theo báo cáo của các địa phương, một số tỉnh khó khăn như Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên…đã có đơn vị cấp huyện hiện nay hoàn thiện thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ xem xét công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nông thôn mới trong năm 2019. Tinh thần tự lực của một số tỉnh được nâng lên rõ rệt, khơi dậy tiềm năng, lợi thế sẵn có. Một số địa phương có đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn/hoàn thành nông thôn mới (4 thành phố và 2 huyện) đã tạo động lực phấn đấu cho các địa phương khác, cũng như lan tỏa ra toàn vùng.

Kết quả xây dựng nông thôn mới mặc dù đã có chuyển biến tích cực nhưng nhiều địa phương còn khó khăn, đặc biệt là các thôn, bản vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới nên nhìn chung kết quả xây dựng nông thôn mới còn khoảng cách chênh lệch khá lớn, có xu hướng nới rộng khoảng cách so với các vùng, miền của cả nước. Toàn khu vực vẫn còn khoảng 828 xã đạt dưới 10 tiêu chí (chiếm 61,3% của cả nước).

Trong giai đoạn 2021-2025, Ban Chỉ đạo Trung ương đề ra mục tiêu có ít nhất 01 tỉnh được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 100% các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc có ít nhất 1 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, trong đó, khuyến khích các huyện đã được công nhận trong giai đoạn 2016-2020 tiếp tục phấn đấu trở thành huyện nông thôn mới kiểu mẫu...Các công trình hạ tầng thiết yếu (giao thông, điện, nước, trường học, trạm y tế) đảm bảo tính kết nối, liên thông và ứng phó với biến đổi khí hậu.Chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được nâng cao, thu nhập bình quân tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2020.

Bên cạnh đó, các tỉnh cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và người dân để khơi dậy được tiềm năng, lợi thế của địa phương trong phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh trật tự... phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025.

Toàn cảnh Hội nghị

Nhiều bài học kinh nghiệm về bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới

Riêng đối với tiêu chí môi trường, có 786 xã đạt tiêu chí Môi trường và An toàn thực phẩm, đạt 34,5% (tăng 31,5% so với năm 2011 và tăng 20,0% so với năm 2015). Đã có nhiều bài học kinh nghiệm về mô hình, cách làm hiệu quả tại các địa phương đã làm thay đổi đời sống của bà con nhân dân, cải tạo cảnh quan môi trường. Có thể điểm qua một số ví dụ điển hình như: Mô hình xử lý nước thải sinh hoạt và cải tạo cảnh quan môi trường ở TP Sông Công, tỉnh Thái Nguyên; Mô hình kỹ thuật kết hợp giữa xử lý rác thải hữu cơ và trồng chuối tại Yên Bái, Mô hình làng kinh tế sinh thái kết hợp với du lịch tỉnh Lai Châu...

Ngoài ra còn rất nhiều bài học hữu ích đáng được ghi nhận, từ thay đổi tập quán canh tác, thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp, chế biến nông lâm thuỷ sản thân thiện với môi trường; thay đổi tập quán chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán, nằm sát khu sinh hoạt; thay đổi thói quen về xả rác bừa bãi (đặc biệt là vào nguồn nước); thay đổi hành vi và nhận thức về môi trường thông qua các hoạt động dọn dẹp vệ sinh, trồng hoa, trồng cây, tạo dựng cảnh quan môi trường nông thôn sáng – xanh – sạch và đẹp….

Tuy nhiên, cũng cần thẳng thắn nhìn nhận là công tác BVMT khu vực miền núi phía Bắc hiện nay vẫn đang đối đầu với đầy những khó khăn, thách thức. Trước hết phải nói là địa bàn rộng, mật độ dân cư thưa thớt (trừ các khu vực nội thị); địa hình không bằng phẳng; lũ lụt thiên tai xảy ra thường xuyên, nên mức độ đầu tư cho hạ tầng nói chung và hạ tầng vệ BVMT là vô cùng khó khăn.

Thứ hai là điều kiện kinh tế thấp, nên các nội dung được ưu tiên sẽ là đường giao thông, phát triển kinh tế, cấp điện, cấp nước…; sau đó đến nhóm các nội dung về an sinh xã hội như trường học, trạm y tế, nhà văn hoá….và các nội dung về môi trường thường bị xếp ở nhóm ưu tiên cuối cùng.

Thứ ba là tập quán và thói quen sinh hoạt của người dân, từ chăn nuôi, đến sản xuất nông nghiệp, để nhu cầu nước sạch, nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước….; để thay đổi được tập quán của người dân, quả thực không thể ngày một ngày hai.

Thứ tư là chưa có một hành làng pháp lý đặc thù cũng nhưng cơ chế hỗ trợ ưu đãi đặc biệt cho khu vực này, để kêu gọi, thu hút được các nguồn lực của xã hội cho công tác BVMT.

Thứ năm là cần một mục tiêu, tiêu chí, cách làm riêng và đặc thù cho vùng miền núi phía Bắc trong thời gian tới, không nên đặt chung một mặt bằng với các vùng miền khác.

Quan tâm đầu tư cho môi trường, không để môi trường tụt lại phía sau

Từ nay đến khi kết thúc Chương trình, bên cạnh tiếp tục nỗ lực củng cố chất lượng và đẩy nhanh tiến độ về đích nông thôn mới, cần phấn đấu đến hết năm 2020, bức tranh kinh tế - xã hội – môi trường nông thôn khu vực miền núi phía Bắc sẽ hài hòa, đồng đều, không để môi trường tụt lại phía sau.

Trong giai đoạn tới, về môi trường, vẫn phải bám sát vào các mục tiêu, cách làm đã được xác định tại Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó đặc biệt chú trọng: về quản lý rác thải sinh hoạt, rác thải từ quá trình sản xuất nông nghiệp (như chăn nuôi, chế biến nông lâm sản…); quản lý các cơ sở sản xuất, hoạt động chăn nuôi, hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, đặc biệt là nước thải phát sinh từ các hoạt động này trên địa bàn nông thôn; giải quyết từng bước công tác cấp nước sạch cho người dân; công tác vệ sinh cá nhân tại các hộ gia đình (nhà tiêu, nhà tắm, bể chứa nước; phong trào 3 sạch..); tiếp tục nỗ lực không ngừng công tác tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi...

Về phía Bộ Tài nguyên và Môi trường, bên cạnh song hành cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành địa phương, quyết tâm thực hiện có hiệu quả Chương trình theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ đang tập trung cao độ cho công tác quản lý chất thải rắn trên phạm vi toàn quốc, trong đó từ đánh giá thực trạng trên toàn lãnh thổ Việt Nam, rà soát lại toàn bộ cơ chế chính sách; phân công trách nhiệm; rà soát lại công nghệ và các mô hình quản lý phù hợp để đề ra một định hướng quản lý chất thải rắn.

Đặc biệt, Bộ sẽ tập trung rà soát và xác định có được một mô hình và phương thức quản lý chất thải rắn phù hợp, hiệu quả, an toàn về môi trường; thích ứng với điều kiện địa lý và tập quán của người dân, chú trọng việc phân loại và xử lý an toàn tại nơi phát sinh chất thải.

Ngoài ra, còn nhiều việc Bộ cũng đang song hành cùng với các địa phương khu vực miền núi phía Bắc như quản lý các nguồn nước, các khu vực bảo tồn thiên nhiên có tầm quan trọng quốc gia; quản lý các cơ sở sản xuất có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao; quản lý môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; làng nghề…;

Trong thời gian xa hơn, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, cùng xác định lại các mục tiêu cụ thể cho từng vùng miền kế thừa từ những thành quả của Chương trình giai đoạn này. Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục nghiên cứu và để xuất khung pháp lý; cơ chế chính sách, các hướng dẫn thực hiện mang tính pháp quy phù hợp cho khu vực miền núi phía Bắc.

Nguồn tin: Cổng thông tin điện tử - Bộ Tài nguyên Môi trường

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

T&T159
Thống kê
  • Đang truy cập10
  • Hôm nay3,756
  • Tháng hiện tại61,718
  • Tổng lượt truy cập3,286,794
Giới thiệu

Công ty CP Giống và Vật tư Nông nghiệp Thái Hoà

Thông tin chung Tên công ty: Công Ty Cổ Phần Giống Và Vật Tư Nông Nghiệp Thái Hòa Chủ sở hữu: Hà Ngọc Toàn Mã số thuế: 2901899435 Tên giao dịch: THAI HOA.,JSC. Địa chỉ thông tin liên hệ Địa Chỉ: xóm...

Liên kết Website
Thăm dò ý kiến

Bạn biết Công ty Cổ phần T&T 159 từ đâu

Hotline: 0988 259 159
CHAT ZALO
HOTLINE
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây